Tin tức Bệnh Tim Mạch
Chèn ép tim là khi tim không thể bơm đủ máu đến các cơ quan trong cơ thể do tích tụ dịch xung quanh tim. Đây là một tình trạng nghiêm trọng có thể gây tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Do đó cần gọi cấp cứu ngay khi bản thân hoặc một ai đó có các triệu chứng chèn ép tim.
Hội chứng Dressler là một dạng viêm màng ngoài tim (viêm túi bao bọc quanh tim). Hội chứng Dressler còn được gọi là hội chứng sau phẫu thuật tim, hội chứng sau nhồi máu cơ tim hay hội chứng sau tổn thương tim vì tình trạng này thường xảy ra sau phẫu thuật tim, nhồi máu cơ tim hoặc sau khi tim bị tổn thương. Hội chứng Dressler được cho là xảy ra do hệ miễn dịch phản ứng quá mức sau những sự kiện này.
Viêm màng ngoài tim co thắt là một dạng viêm màng ngoài tim mạn tính. Màng ngoài tim là lớp mô mỏng giống như một chiếc túi bao quanh tim. Khi bị viêm, màng ngoài tim có thể hình thành sẹo, dày lên và co lại. Theo thời gian, màng ngoài tim sẽ mất đi tính đàn hồi và trở nên cứng.
Viêm màng ngoài tim do lao xảy ra khi bệnh lao lan đến lớp màng bao xung quanh tim. Bệnh có thể gây ra các triệu chứng như đau ngực và dẫn đến các biến chứng đe dọa tính mạng. Do đó, điều trị kịp thời là điều rất quan trọng.
Viêm màng ngoài tim là tình trạng viêm lớp màng bao xung quanh tim. Tình trạng này thường là do nhiễm virus và có thể gây đau. Có thể điều trị viêm màng ngoài tim bằng thuốc chống viêm và nghỉ ngơi nhưng những trường hợp nghiêm trọng có thể phải điều trị bằng các biện pháp khác để ngăn ngừa tái phát.
Động mạch cảnh là các mạch máu lớn nằm ở hai bên cổ, có chức năng vận chuyển máu giàu oxy đến mặt và não. Nếu không được cung cấp máu giàu oxy, các tế bào não sẽ chết. Sự gián đoạn lưu thông máu đến một vùng nãọ sẽ dẫn đến đột quỵ. Đột quỵ có thể gây tử vong hoặc những biến chứng lâu dài cả về thể chất lẫn tinh thần.
Dập cơ tim là tình trạng cơ tim bị tổn thương sau chấn thương ngực kín nghiêm trọng. Nguyên nhân thường gặp nhất là tai nạn giao thông, rơi từ độ cao lớn và ép ngực trong quá trình hồi sức tim phổi (CPR).
Viêm cơ tim là tình trạng lớp cơ của tim bị viêm. Tình trạng này thường do nhiễm vi khuẩn hoặc virus gây ra.
Bệnh van tim là tình trạng một hoặc nhiều van tim bị ảnh hưởng đến chức năng hoạt động. Nguyên nhân có thể là do máu bị rò rỉ (hở van tim), lỗ mở van tim bị hẹp (hẹp van tim), hoặc kết hợp cả hai.
Bệnh van tim là một dạng bệnh tim xảy ra khi một hoặc nhiều van trong bốn van tim không hoạt động đúng cách. Phẫu thuật thay van có thể là phương pháp được cân nhắc nếu các van tim bị suy yếu quá mức, bị sẹo, hoặc tổn thương đến mức không thể sửa chữa.
Hẹp van động mạch chủ xảy ra khi van động mạch chủ bị thu hẹp và không mở ra như bình thường. Tình trạng này có thể gây đau ngực và khó thở, đặc biệt là sau khi gắng sức.
Hở van động mạch chủ xảy ra khi van động mạch chủ không đóng kín hoàn toàn, khiến một phần máu chảy ngược lại vào tâm thất trái. Tình trạng này có thể gây ra các triệu chứng như đau ngực và mệt mỏi cùng những triệu chứng khác.
Van động mạch chủ hai mảnh là một dị tật tim bẩm sinh, đôi khi khiến tim khó có thể bơm đủ máu để đáp ứng nhu cầu của cơ thể.
Bệnh van hai lá xảy ra khi van hai lá không hoạt động bình thường, khiến máu chảy ngược vào tâm nhĩ trái. Hậu quả là tim không bơm đủ lượng máu giàu oxy từ tâm thất trái ra ngoài để cung cấp cho cơ thể. Điều này có thể gây ra các triệu chứng như mệt mỏi và khó thở. Tuy nhiên, nhiều người có thể mắc bệnh van hai lá nhưng không có triệu chứng.
Hẹp van hai lá xảy ra khi lỗ mở van hai lá bị thu hẹp, làm giảm lượng máu có thể chảy qua.
Các vấn đề về van hai lá có thể được kiểm soát bằng cách dùng thuốc hoặc phẫu thuật sửa chữa van. Đây là những phương pháp ít xâm lấn hơn. Tuy nhiên, nếu tình trạng trở nên nghiêm trọng, van sẽ cần được thay thế hoàn toàn bằng phẫu thuật thay van hai lá.
Bác sĩ phân loại hở van hai lá thành bốn giai đoạn tiến triển. Các triệu chứng thường không xuất hiện cho đến giai đoạn cuối, nhưng cần theo dõi và điều trị ở giai đoạn sớm để có thể làm bệnh chậm tiến triển.
Hẹp van động mạch phổi xảy ra khi van động mạch phổi không mở đúng cách hoặc không mở đủ rộng. Đây là một vấn đề rất hiếm gặp, thường xuất hiện ngay từ khi sinh ra. Tình trạng đôi khi có thể cần sử dụng thuốc hoặc phẫu thuật để điều trị.
Đặt stent động mạch cảnh là một trong hai thủ thuật được sử dụng để điều trị hẹp động mạch cảnh. Thủ thuật này là một lựa chọn ít xâm lấn hơn và thời gian phục hồi nhanh hơn. Tuy nhiên, đặt stent động mạch cảnh vẫn có những rủi ro nhất định.
Hẹp động mạch cảnh, hay bệnh động mạch cảnh, là tình trạng động mạch cảnh bị thu hẹp hoặc tắc nghẽn do mảng xơ vữa. Động mạch cảnh là các mạch máu lớn nằm ở hai bên cổ, có nhiệm vụ mang máu giàu oxy đến não. Bạn có thể cảm nhận thấy mạch động mạch cảnh khi đặt ngón tay ngay bên dưới góc hàm.
Tai biến mạch máu não (cerebrovascular accident) là thuật ngữ y khoa của đột quỵ. Đột quỵ xảy ra khi sự lưu thông máu đến một phần não bị gián đoạn do mạch máu bị tắc nghẽn hoặc bị vỡ.
Dị dạng động tĩnh mạch là sự nối thông bất thường giữa tĩnh mạch và động mạch. Những mạch máu bất thường này có thể bị vỡ và gây nguy hiểm đến tính mạng.
Bệnh mạch máu là thuật ngữ chung chỉ tất cả các vấn đề xảy ra ở động mạch, tĩnh mạch hoặc mao mạch trên khắp cơ thể. Bệnh mạch máu làm gián đoạn sự lưu thông máu đến các cơ quan và mô, dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng.
Viêm cơ tim do lupus là một tình trạng hiếm gặp xảy ra do hệ miễn dịch tấn công và làm tổn thương mô tim, điều này có thể dẫn đến suy tim.
Xơ hóa cơ tim là tình trạng mô sẹo hình thành trong tim. Tình trạng này thường xảy ra sau cơn nhồi máu cơ tim nhưng cũng có thể xảy ra do những nguyên nhân khác.
Điều chỉnh chế độ ăn uống và lối sống có thể giúp kiểm soát bệnh động mạch ngoại biên. Các phương pháp điều trị khác còn có dùng thuốc và phẫu thuật.
Mặc dù phương pháp chính để điều trị bệnh động mạch ngoại biên là dùng thuốc nhưng chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng trong việc làm chậm tốc độ tiến triển của bệnh.
Bệnh cơ tim do căng thẳng còn được gọi là bệnh cơ tim takotsubo và hội chứng "trái tim tan vỡ". Đây là tình trạng tim bị suy yếu do căng thẳng về tinh thần hoặc thể chất.
Đau chân không phải là dấu hiệu ban đầu điển hình của cơn nhồi máu cơ tim nhưng đó có thể là triệu chứng của bệnh động mạch ngoại biên, một bệnh lý có thể làm tăng nguy cơ gặp phải các biến cố tim mạch nghiêm trọng như nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ.
Triệu chứng đặc trưng của bệnh động mạch ngoại biên là đau khi đi lại. Khi tiến triển sang các giai đoạn sau, bệnh động mạch ngoại biên sẽ gây đau cả khi không hoạt động và các triệu chứng khác.




