1

Định lượng LBP máu - Bộ y tế 2018

Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Hóa sinh - Bộ y tế 2018

I.NGUYÊN LÝ

LBP được định lượng bằng kỹ thuật miễn dịch hoá phát quang

Nguyên lý: Pha rắn (hạt phủ kháng thể đơn dòng kháng LBP) được trộn với thuốc thử chứa kháng thể đa dòng kháng LBP liên hợp với ALP và mẫu bệnh phẩm. LBP có mặt trong mẫu bệnh phẩm kết hợp với kháng thể đặc hiệu của pha rắn và kháng thể có trong thuốc thử tạo thành phức hợp dạng bánh mì kẹp chả kháng thể-LBP- kháng thể trên hạt. Phức hợp này bám vào các hạt đã được gắn alkaline phosphatase. Sau khi các các kháng thể liên hợp enzym được loại bỏ bằng rửa ly tâm, cơ chất phát quang được thêm vào. Tín hiệu tạo ra tỷ lệ thuận với lượng kháng thể liên họp enzyme gắn hay nói cách khác là với nồng độ LBP có mặt trong mẫu bệnh phẩm.

II.CHUẨN BỊ

1. Người thực hiện:

  • Nhân viên thực hiện kỹ thuật có trình độ phù hợp.

2. Phương tiện, hóa chất:

2.1. Phương tiện:

  •  Hệ thống máy miễn dịch tự động.
  •  Máy ly tâm

2.2. Hoá chất

  •  Thuốc thử LBP
  •  Vật liệu kiểm tra chất lượng (QC 1,2)
  •  Nước cất

3. Người bệnh: Người bệnh cần được chuẩn bị và giải thích về mục đích của việc lấy máu để làm xét nghiệm.

4.Phiếu xét nghiệm:

  •  Phiếu xét nghiệm theo đúng quy định của Bộ Y tế và bệnh viện
  •  Trên phiếu xét nghiệm cần ghi đầy đủ thông tin của người bệnh: họ và tên, tuổi, giới tính, số giường, khoa phòng, chẩn đoán, xét nghiệm cần làm.
  •  Trên phiếu xét nghiệm cần có: chữ ký và họ tên bác sĩ chỉ định xét nghiệm, họ tên người lấy mẫu, thời gian chỉ định xét nghiệm và thời gian lấy mẫu bệnh phẩm.

III.CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

1. Lấy bệnh phẩm:

  •  Có thể sử dụng huyết thanh hoặc huyết tương (không sử dụng huyết tương chống đông EDTA).
  •  Lấy máu tĩnh mạch và để tạo cục đông trước khi ly tâm lấy huyết thanh.
  •  Không sử dụng bệnh phẩm có bọt, có fibrin hoặc các chất dạng hạt.
  •  Bảo quản bệnh phẩm ở 2-8oC được 2 ngày.
  •  Chỉ rã đông bệnh phẩm một lần và trộn kỹ bệnh phẩm sau khi rã đông.

2. Tiến hành kỹ thuật:

- Ly tâm ống máu trong 3 phút với vận tốc 5000 vòng/ phút.

- Đặt ống máu đã được ly tâm vào vị trí trên khay chứa mẫu.

- Vận hành máy theo hướng dẫn trong tài liệu hướng dẫn sử dụng máy miễn dịch IMMULITE 2000.

- Máy sẽ tự động in ra kết quả sau khi hoàn tất quá trình phân tích.

- Kiểm soát chất lượng:

  • Hàng ngày : Chạy 2 mức chất chứng vào đầu ngày làm việc. Tất cả các kết quả kiểm tra chất lượng phải được ghi lại trong bảng theo dõi chất chứng. Chỉ thông báo kết quả xét nghiệm nếu cả hai mức chất chứng nằm trong khoảng cho phép.
  • Định kỳ : Chuẩn lại và chạy 2 mức chất chứng sau khi thay lô thuốc thử mới hoặc sau khi bảo dưỡng, sửa chữa máy do sự cố, thay thế trang thiết bị phân tích quan trọng. Ghi lại kết quả vào bảng theo dõi chuẩn máy XN.

IV.NHẬN ĐỊNH KẾT QUẢ

1. Giá trị tham chiếu:

  • Giá trị tham chiếu: Người trưởng thành từ 2,2 μg/mL đến 11,4 μg/mL.

2. Ýnghĩa lâm sàng:

Các nội độc tố (lipopolysaccharide và lipooligosaccharide; LPS và LOS) sản sinh bởi vi khuẩn gram âm là đại diện cho các chất có khả năng kích hoạt phản ứng viêm, kích thích sản sinh các cytokine gây viêm (ví dụ, IL-6, TNF, IL-8) bởi bạch cầu đơn nhân, tế bào màng trong, bạch cầu hạt và tế bào lympho. Khả năng nhận ra LPS bởi các tế bào tác động được tăng thêm nhiều thông qua chức năng của protein liên kết với lipopolysaccharide (LBP), một dạng protein pha cấp tính liên kết và hút nội độc tố về bề mặt của những tế bào này. LBP có liên quan về mặt kết cấu với protein làm tăng tính diệt khuẩn/khả năng thẩm thấu (BPI), một glycoprotein được sản sinh ở dạng hạt ưa azua của bạch cầu hạt có khả năng diệt vi khuẩn và trung hòa cũng như loại bỏ các nội độc tố. Do đóng vai trò trọng yếu trong giai đoạn đầu khi phản ứng trước vi khuẩn và nội độc tố, nồng độ của LBP trong huyết tương đã được nghiên cứu ở rất nhiều tập hợp người. Ở những người bình thường, LBP có mặt trong huyết tương với nồng độ từ 2 đến 10 μg/mL. Trong một số tập hợp người bệnh, nồng độ LBP có thể vượt 100 μg/mL và có thể duy trì trong vài ngày. Người ta đã ghi nhận nồng độ LBP trong huyết tương tăng cao ở những người bệnh mắc nhiễm khuẩn huyết, nhiễm trùng dạ dày, màng não cầu huyết, SIRS, viêm loét đại tràng, bệnh Crohn, hội chứng tan huyết urê huyết, và người bệnh có tim phổi nhân tạo.Tiêm nội độc tố vào những tình nguyện viên khỏe mạnh cũng làm tăng mức LBP,và quá trình lấy mẫu theo chiều dọc từ những người bệnh được phẫu thuật gan hoặc người bệnh bị xuất huyết do chấn thương cũng cho thấy mức LBP tăng cao trong vòng giờ đầu bị chấn thương. Nồng độ LBP có vẻ như không tăng ở những người bệnh mắc các chứng rối loạn viêm. Vì những lý do này, người ta đã cho rằng mức LBP có thể là dấu hiệu của phơi nhiễm với vi khuẩn hoặc nội độc tố và tiên lượng về tiến triển bệnh, đồng thời có thể cung cấp một công cụ mới để theo dõi việc điều trị người bệnh và quản lý người bệnh về lâu dài.

V.NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ XỬ TRÍ.

  • Không sử dụng mẫu bệnh phẩm máu bị vỡ hồng cầu, cần loại bỏ và lấy lại mẫu khác
Bài viết nghiên cứu có thể bạn quan tâm
Định lượng 17-0HP (17 alpha-Hydroxyprogesterone) máu - Bộ y tế 2018
  •  3 năm trước

Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Hóa sinh - Bộ y tế 2018

Định lượng Acylcarnitin máu bằng MSMS - Bộ y tế 2018
  •  3 năm trước

Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Hóa sinh - Bộ y tế 2018

Định lượng AMH (Anti Mulerian Hormone) máu theo kỹ thuật hóa phát quang/điện hóa phát quang - Bộ y tế 2018
  •  3 năm trước

Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Hóa sinh - Bộ y tế 2018

Định lượng Amikacin máu - Bộ y tế 2018
  •  3 năm trước

Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Hóa sinh - Bộ y tế 2018

Định lượng CDT (carbohydrate-deficient transferrin) máu - Bộ y tế 2018
  •  3 năm trước

Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Hóa sinh - Bộ y tế 2018

Tin liên quan
Tăng cholesterole máu có tính gia đình là gì?
Tăng cholesterole máu có tính gia đình là gì?

Tăng cholesterol máu có tính gia đình (familial hypercholesterolemia) là một rối loạn di truyền có đặc trưng là nồng độ cholesterol trong máu cao, cụ thể là nồng độ lipoprotein mật độ thấp (LDL) hay cholesterol xấu. Điều này xảy ra do cơ thể không có khả năng xử lý cholesterol một cách hiệu quả. Những người bị tăng cholesterol máu có tính gia đình có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn và nguy cơ nhồi máu cơ tim sớm hơn.

Những điều cần biết về rối loạn lipid máu hỗn hợp có tính gia đình
Những điều cần biết về rối loạn lipid máu hỗn hợp có tính gia đình

Rối loạn lipid máu hỗn hợp có tính gia đình là một bệnh lý di truyền gây tăng cholesterol, triglyceride và các loại lipid khác trong máu. Tình trạng này làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim và nhồi máu cơ tim sớm.

Tăng lipid máu hỗn hợp có tính gia đình là gì?
Tăng lipid máu hỗn hợp có tính gia đình là gì?

Tăng lipid máu hỗn hợp có tính gia đình (familial combined hyperlipidemia - FCHL) là một rối loạn di truyền có đặc trưng là nồng độ một số loại lipid (chất béo) trong máu cao hơn bình thường. Cụ thể, những người mắc FCHL có mức LDL cholesterol (cholesterol xấu) và triglyceride cao. Nồng độ những chất này trong máu quá cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ.

Các phương pháp điều trị tăng cholesterol máu có tính gia đình
Các phương pháp điều trị tăng cholesterol máu có tính gia đình

Phương pháp điều trị chính cho bệnh tăng cholesterol máu có tính gia đình là thuốc ức chế HMG-CoA reductase (statin) để làm giảm LDL cholesterol. Ngoài ra còn có nhiều phương pháp điều trị khác.

Tăng cholesterol máu có tính gia đình đồng hợp tử là gì?
Tăng cholesterol máu có tính gia đình đồng hợp tử là gì?

Tăng cholesterol máu có tính gia đình (familial hypercholesterolemia) là một rối loạn di truyền đặc trưng bởi nồng độ LDL cholesterol (cholesterolxấu) trong máu cao. Tăng cholesterol máu có tính gia đình được chia thành hai loại là tăng cholesterol máu có tính gia đình đồng hợp tử (homozygous familial hypercholesterolemia - HoFH) và tăng cholesterol máu có tính gia đình dị hợp tử (heterozygous familial hypercholesterolemia - HeFH), tùy thuộc vào việc người bệnh có một hay hai bản sao của gen gây bệnh.

Hỏi đáp có thể bạn quan tâm
Đường kính lưỡng đỉnh và cân nặng nhỏ hơn tuổi thai?
  •  4 năm trước
  •  1 trả lời
  •  2224 lượt xem

Em đi khám, bs kết luận là thai khoảng 34 tuần, đường kính lưỡng đỉnh và cân nặng 2.220g của bé nhỏ hơn tuổi thai. Có thể là tuổi thai của em tính chưa chính xác. Nhưng nếu như vậy, có phải là thai nhi phát triển không bằng tuổi thai thật và bé bị thiếu dưỡng chất phải không ạ?

Đường kính lưỡng đỉnh của bé là 73,6mm, có nhỏ không?
  •  4 năm trước
  •  1 trả lời
  •  1416 lượt xem

Cho em hỏi siêu âm bé 29 tuần; Đường kính lưỡng đỉnh (ĐKLĐ): 73,5 mm; Chiều dài xương đùi 57,6 mm; Chu vi vòng bụng 243 mm. Bác sĩ cho em hỏi: theo chỉ số này thì vòng đầu của bé có nhỏ hơn bình thường không ạ?

Các phản ứng nhạy cảm với vắc xin có di truyền trong gia đình không?
  •  6 năm trước
  •  1 trả lời
  •  1229 lượt xem

- Bác sĩ cho hỏi, các phản ứng nhạy cảm với vắc xin có di truyền từ bố mẹ sang con không ạ? Cảm ơn bác sĩ!

Có nên uống thuốc mua thay cho thuốc bs đã chỉ định?
  •  5 năm trước
  •  1 trả lời
  •  672 lượt xem

Mang thai 12 tuần, đi khám, bs kê cho em thuốc Vital Pregna và Total Calcium. Sau đó, em về mua ở hiệu thuốc gần nhà thì lại không có 2 loại trên, nên họ bán cho 2 loại thuốc tương đương là HemoQ Mom và NextG Cal. Vậy, em có thể uống 2 loại vừa mua thay cho 2 loại bs đã chỉ định trong đơn, được không ạ?

Trẻ 6 tháng tuổi có nổi gờ xương trên đỉnh đầu là do thóp chưa liền hay bị làm sao?
  •  5 năm trước
  •  1 trả lời
  •  1470 lượt xem

Bé nhà em đang được 6 tháng. Tuy nhiên trên đỉnh đầu của bé lại có cái gờ xương nổi lên. Khi bé được 5 tháng rưỡi thì em cho bé đi khám ở khoa Thần Kinh ở bệnh viện Xanh Pôn. Bác sĩ kết luận là thóp đầu của bé chưa liền hẳn, khi nào bé được 1 tuổi thì đến khám lại. Em rất lo, không biết bé như vậy có bị làm sao không ạ?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây