Khoan các tổn thương vôi hóa ở động mạch - Bộ y tế 2014
I. ĐẠI CƯƠNG
Khoan phá mảng xơ vữa (Rotational Atherectomy) bằng mũi khoan xoay tròn tốc độ rất cao là kỹ thuật được tiến hành nhằm mục đích tái cấu trúc (thông thoáng lòng mạch) và loại bỏ những mảng xơ vữa vôi hoá trong lòng mạch, giúp việc nong bóng mạch vành và đặt stent thuận lợi hơn. Nguyên lý của quá trình này tương tự như kỹ thuật lấy cao răng của nha sĩ, đó là dùng một đầu mũi khoan với các kích cỡ khác nhau, đầu có gắn các tinh thể kim cương nhân tạo nhỏ, khi quay với tốc độ rất cao (150 000- 200 000 vòng/phút) đã bào mòn một cách có chọn lọc những lớp vật chất bề mặt (mảng xơ vữa, xơ hoá, calci hoá) thành những mảnh siêu nhỏ và trôi theo dòng tuần hoàn, trong khi vẫn bảo toàn lớp tế bào nội mô đàn hồi phía dưới.
II. CHỈ ĐỊNH
- Tổn thương mạch vành vôi hoá nhiều, mà việc nong bằng bóng thông thường không nở được toàn bộ, tuy nhiên tổn thương có thể đưa guidewire qua được.
- Tổn thương nguyên bản (de novo) (tức là tổn thương lần đầu) có chiều dài < 25 mm.
- Thận trọng với các tổn thương sau:
- Tổn thương lan toả, hẹp nhiều thân mạch vành.
- Can thiệp thân chung không được bảo vệ.
- Người bệnh có chức năng thất trái giảm (EF < 30%).
- Tổn thương nguyên bản có chiều dài > 25 mm.
- Tổn thương gập góc ( > 450).
III. CHỐNG CHỈ ĐỊNH
- Tắc hoàn toàn mạch vành, không đưa guidewire qua được.
- Có huyết khối trên phim chụp ĐMV.
- Can thiệp cầu nối tĩnh mạch hiển.
- Tách thành động mạch vành từ typ C trở lên.
- Tổn thương gập góc nặng (> 900).
IV. CHUẨN BỊ
1. Người thực hiện
- 02 bác sĩ chuyên ngành tim mạch can thiệp.
- 01 điều dường và 01 kỹ thuật viên có kinh nghiệm về tim mạch can thiệp.
2. Người bệnh
- Người bệnh được giải thích kỹ về thủ thuật và đồng ý làm thủ thuật và ký vào bản cam kết làm thủ thuật.
- Kiểm tra người bệnh về tiền sử bệnh lý như tiền sử xuất huyết tiêu hóa, các bệnh rối loạn đông máu, dị ứng các thuốc cản quang, dị ứng adenosin...
3. Chuẩn bị phương tiện
- Bàn để dụng cụ: bao gồm bộ bát vô khuẩn, áo phẫu thuật, găng tay.
- Gạc vô khuẩn; bơm 5 ml, 10 ml, 20 ml, 50 ml; dụng cụ ba chạc.
- Bộ dụng cụ mở đường vào động mạch: 01 bộ sheath, 01 kim chọc mạch, thuốc gây tê tại chỗ (lidocain hoặc novocain).
- Ống thông can thiệp động mạch vành: nếu dùng mũi khoan kích thước 1,25 mm hoặc 1,5 mm, có thế dùng ống thông 6F. Ống thông 7F phù hợp với mũi khoan dưới 2 mm. Mũi khoan từ 2 mm trở lên phải dùng ống thông 8F, 9F.
- Hệ thống Rotablator của hãng Boston Scientific (hình 1):
- Mũi khoan: gồm các kích cỡ 1,25; 1,5; 1,75; 2 mm.
- Máy khoan (Rotalink).
- Guidewire chuyên dụng (Rotawire): có kích thước 0,009 inch x 300 cm. Có hai loại Rotawire là loại đầu cứng và loại đầu mềm. Đầu mũi khoan sẽ trượt trên Rotawire.
- Máy điều khiển: mũi khoan được hoạt động nhờ một hệ thống tua-bin vận hành bằng khí ni-tơ nén. Thủ thuật viên sẽ kích hoạt hoặc ngừng kích hoạt tua-bin này nhờ một bàn đạp đặt phía dưới bàn can thiệp.
- Dung dịch bôi trơn (Rotaglide).

Hình 1. Hệ thống Rotablator
- Hệ thống bình chứa ni-tơ.
- Máy tạo nhịp tạm thời
- Thuốc cấp cứu (atropin, dopamin,...) và thuốc giãn mạch (nitroglycerin, adenosine, verapamil).
4. Hồ sơ bệnh án
Được hoàn thiện đầy đủ theo quy định của Bộ Y tế.
V. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
- Mở đường vào động mạch: những trường hợp cần khoan phá mảng xơ vữa thường là tổn thương vôi hoá nhiều, nên sử dụng đường động mạch đùi. Tuy nhiên, vẫn có thể dùng đường động mạch quay.
- Đặt máy tạo nhịp tim dự phòng nếu thực hiện khoan phá mảng xơ vữa với động mạch vành phải.
- Đặt ống thông can thiệp.
- Lái guidewire đến đầu xa mạch vành: có thể sử dụng ngay với Rotawire hoặc dùng guidewire thông thường, sau đó tráo đổi Rotawire bằng ống thông siêu nhỏ (micro-catheter) hoặc bóng lòng dài (over-the-wire balloon).
- Chọn kích cỡ mũi khoan: nên bắt đầu với mũi khoan nhỏ (1,25-1,5 mm), sau đó tăng dần kích cỡ, và tránh vượt quá 80% kích thước mạch vành. Nói chung, một mũi khoan nhỏ (1,25-1,5 mm) thường là đủ.
- Cài đặt tốc độ quay của đầu khoan. Tốc độ quay thường là 160.000 đến 180.000 vòng/phút, tuỳ theo kích cỡ mũi khoan. Mũi khoan nhỏ (1,25-2,0 mm) có thể quay tới 180.000-200.000 vòng/phút. Mũi khoan lớn quay chậm hơn.
- Đẩy mũi khoan theo Rotawire vào đoạn mạch vành lành trước tổn thương.

Hình 2. Hình ảnh mô tả quy trình mũi khoan bào mòn mảng xơ vữa vôi hóa
- Trước khi bật máy khoan tiêm dung dịch giãn mạch để tránh co thắt mạch vành.
- Thủ thuật viên kích hoạt máy bằng bàn đạp và đẩy từ từ mũi khoan qua tổn thương. Mỗi lần mở máy không nên quá 30 giây.
- Có thể đưa mũi khoan qua lại tổn thương nhiều lần, sau đó đánh giá xem có cần dùng mũi khoan lớn hơn hay không.
- Sau khi đã hoàn tất quá trình khoan phá mảng xơ vữa. Kéo mũi khoan ra, tiến hành nong bóng và đặt stent mạch vành như các ca can thiệp thông thường khác.
VI. THEO DÕI, TAI BIẾN VÀ XỬ TRÍ
- Hiện tượng dòng chảy chậm sau khi bóc mảng xơ vữa.
- Sau khi khoan phá mảng xơ vữa, có thể xuất hiện nguy cơ dòng chảy chậm (tỉ lệ 1,2-7,6%).
- Hạn chế dòng chảy chậm bằng cách đẩy mũi khoan chậm, sử dụng mũi khoan nhỏ, bơm rửa liên tục để đảm bảo máu lưu thông.
- Nói chung, không có dòng chảy/dòng chảy chậm thường phục hồi sau 5-15 phút. Sử dụng adenosin hoặc verapamil tiêm mạch vành (100-200 μg) có thể cải thiện tình trạng này. Đặt máy tạo nhịp tạm thời dự phòng trong những trường hợp nguy cơ cao.
- Các biến chứng khác:
- Nhồi máu cơ tim có sóng Q (1-1,3%).
- Tách thành động mạch vành (10-13%).
- Tắc mạch máu cấp (2-11%).
- Thủng mạch vành (0-1,5%).
- Co thắt mạch vành nặng (1,6-6,6%).
Đa số các biến chứng có thể tránh được nếu bác sĩ can thiệp tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật và sử dụng mũi khoan nhỏ. Xử trí biến chứng tương tự những trường hợp khác. Nếu có thủng mạch vành, bơm bóng bịt kín chỗ thủng và dùng stent có màng bọc, có thể cần chọc dẫn lưu dịch màng tim.
Hướng dẫn quy trình kỹ thuật Nhi khoa - Bộ y tế 2017
Hướng dẫn quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành bỏng - Bộ y tế 2013
Hướng dẫn quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành bỏng - Bộ y tế 2013
Hướng dẫn quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh Nội khoa, chuyên ngành Cơ Xương Khớp - Bộ y tế 2014
Áp lực khí là một công nghệ không dùng đến mũi khoan, được sử dụng để loại bỏ những vùng sâu răng nhỏ hoặc để thực hiện một số phương pháp khác.
Có khoảng 80% các trường hợp tổn thương răng miệng xảy ra ở răng cửa và có thể tác động đến cả phần mô mềm – lưỡi, môi và bên trong má.
Tổn thương tế bào biểu mô vảy mức độ thấp không có bất kỳ triệu chứng nào nên phụ nữ sẽ chỉ biết mình có tế bào bất thường trên cổ tử cung khi làm xét nghiệm Pap. Vì lý do này nên việc tầm soát định kỳ là rất quan trọng để chẩn đoán và điều trị sớm.
Tổn thương thận là một biến chứng phổ biến của bệnh đái tháo đường nhưng đây là một tình trạng có thể phòng ngừa được. Kể cả khi thận đã bị tổn thương thì vẫn có những cách để làm chậm tốc độ tiến triển của bệnh. Kiểm soát tốt lượng đường trong máu và dùng một số loại thuốc có thể giúp giảm nguy cơ tổn thương thận khi mắc bệnh đái tháo đường.
Điều trị đau tim kịp thời và hiệu quả có thể giúp hạn chế được các biến chứng ảnh hưởng đến chức năng não như trí nhớ, khả năng tập trung và đưa ra quyết định. Các bác sĩ khuyến nghị thực hiện các thói quen có lợi cho sức khỏe tim mạch như tập thể dục đều đặn, ăn uống cân bằng và tránh hút thuốc cũng giúp cải thiện chức năng não.
- 1 trả lời
- 543 lượt xem
Em muốn tâm sự với bs một vấn đề tạm cho là... tế nhị thế này - Trước ngày rụng trứng, em có đi siêu âm đầu dò xem trứng đã rụng chưa. Lúc siêu âm, em không nhìn thấy bs thay bao cao su mà chỉ nghe thấy âm thanh vuốt BCS thôi. Em lo bs không thay bao mới vì trước em, cũng có 1 bạn siêu âm thai đầu dò. Bạn đó ra, em vào luôn nên em đang lo lắng là nếu bs quên không thay bao, cứ thế siêu âm luôn cho em mà nhỡ tinh trùng (trong âm đạo bạn đó vẫn còn bám lên bao cao su) thì khả năng em có thai (do tinh trùng bám vào bao cao su đó) có thể xảy ra được không ạ?
- 1 trả lời
- 1165 lượt xem
Khi bé bị sốt quá cao có gây tổn thương lên não không ạ? Và sốt cao bao nhiêu độ thì sẽ ảnh hưởng đến não?
- 1 trả lời
- 2346 lượt xem
Hiện bé nhà em đang được 2 tháng 5 ngày. Hôm trước khi thấy em khóc thì anh trai bé có vội sốc vai bé lên làm cổ bị gập ngửa ra sau. Trộm vía sau đó bé vẫn chơi và bú bình thường. Không biết bé như vậy có bị tổn thương cổ không ạ?
- 1 trả lời
- 2205 lượt xem
Mang thai được 36,5 tuần, vợ em đi khám, kết quả siêu âm là: Nhịp tim thai 138 lần/ phút, ĐKLD 90mm, CDXD 69mm, CVB 321mm, CN 2814gr, ĐM Rốn S/D 3,4 ( 0.7). Vợ em có dây rốn quấn cổ 1 vòng. Lượng ối 13cm. Vị trí nhau bám: mặt trước nhóm 2. Độ trưởng thành 2. Kết luận: một thai sống trong tử cung ngôi đầu. Tăng trở kháng động mạch rốn. Đo tim thai, bs nói là có đáp ứng và hẹn 3-4 ngày sau tái khám. Vậy, tăng trở kháng động mạch rốn là sao - Với kết quả trên, vợ em có thể sinh thường không ạ?
- 1 trả lời
- 1425 lượt xem
- Bác sĩ ơi, bé nhà tôi được 9 tháng tuổi, bé chưa bao giờ phản ứng xấu với một loại vắc xin nào. Bác sĩ cho tôi hỏi, điều đó có nghĩa là cháu sẽ không phản ứng gì với các mũi tiêm trong tương lai, phải không ạ? Cảm ơn bác sĩ!



