Thủ thuật đốt điện tim có tác dụng gì?
Thủ thuật đốt điện tim có tác dụng gì?
Khi nào cần đốt điện tim?
Rối loạn nhịp tim là tình trạng tim đập quá nhanh, quá chậm hoặc không đều. Rối loạn nhịp tim là vấn đề rất phổ biến, đặc biệt là ở người lớn tuổi và những người mắc các bệnh tim. Có nhiều phương pháp điều trị rối loạn nhịp tim và một trong số đó là thủ thuật đốt điện tim (cardiac ablation).
Không phải ai bị rối loạn nhịp tim cũng cần điều trị bằng thủ thuật đốt điện tim. Ở nhiều người, tình trạng rối loạn nhịp tim không nguy hiểm và không cần điều trị. Đôi khi, rối loạn nhịp tim chỉ cần điều trị bằng thuốc.
Đốt điện tim thường được chỉ định trong những trường hợp:
- rối loạn nhịp tim không đáp ứng với thuốc
- gặp tác dụng phụ nghiêm trọng khi dùng thuốc điều trị rối loạn nhịp tim
- mắc những loại rối loạn nhịp tim đáp ứng tốt với thủ thuật đốt điện tim
- có nguy cơ cao bị ngừng tim đột ngột hoặc các biến chứng khác
Thủ thuật đốt điện tim thường được thực hiện để điều trị các loại rối loạn nhịp tim sau:
- Nhịp nhanh vòng vào lại nút nhĩ thất (AVNRT): tim đập rất nhanh do có thêm một đường dẫn truyền (vòng vào lại) gần nút nhĩ thất.
- Rối loạn nhịp tim do đường dẫn truyền phụ: tim đập nhanh do đường dẫn truyền điện bất thường giữa các buồng trên và dưới của tim
- Rung nhĩ và cuồng: tim đập quá nhanh và không đều bắt đầu từ hai buồng trên của tim
- Nhịp nhanh thất: tim đập rất nhanh bắt đầu từ hai buồng dưới của tim
Chuẩn bị trước khi đốt điện tim
Trước khi tiến hành đốt điện tim, người bệnh sẽ được kiểm tra nhịp tim và hoạt động điện của tim. Bác sĩ sẽ hỏi về những bệnh lý khác mà người bệnh đang mắc, nhất là bệnh tiểu đường và bệnh thận. Phụ nữ đang mang thai không nên đốt điện tim vì thủ thuật này có sử dụng bức xạ.
Người bệnh cần phải nhịn ăn trong ít nhất 6 tiếng trước thủ thuật đốt điện tim. Nếu đang dùng các loại thuốc gây chảy máu trong quá trình làm thủ thuật, chẳng hạn như thuốc làm loãng máu hay thuốc chống đông máu thì sẽ phải tạm ngừng một thời gian trước thủ thuật. Tuy nhiên, một số bác sĩ lại yêu cầu tiếp tục dùng các loại thuốc này trước thủ thuật đốt điện tim. Bác sĩ sẽ có hướng dẫn cụ thể về những gì cần chuẩn bị trước thủ thuật.
Quy trình đốt điện tim
Đốt điện tim diễn ra trong một phòng đặc biệt được gọi là phòng xét nghiệm điện sinh lý. Đội ngũ thực hiện gồm có bác sĩ, kỹ thuật viên, y tá và bác sĩ gây mê.
Quá trình đốt điện tim thường kéo dài từ 3 đến 6 tiếng. Người bệnh sẽ được gây mê toàn thân hoặc gây tê tại chỗ cùng với an thần.
Đầu tiên, người bệnh sẽ được truyền thuốc gây mê qua tĩnh mạch ở cánh tay và chìm vào giấc ngủ. Người bệnh sẽ được nối với thiết bị theo dõi hoạt động điện của tim.
Bác sĩ sẽ sát khuẩn và gây tê một vùng da ở cánh tay, cổ hoặc bẹn của người bệnh. Tiếp theo, bác sĩ luồn một ống thông qua mạch máu vào tim. Thuốc cản quang được bơm vào ống thông để làm cho những vùng bất thường trong tim hiển thị rõ trên ảnh X-quang. Điện cực gắn ở đầu ống thông sẽ truyền năng lượng sóng cao tần (radiofrequency) để phá hủy vùng mô tim gây rối loạn nhịp tim và đưa nhịp tim về bình thường.
Nếu được gây tê tại chỗ, người bệnh có thể sẽ vẫn thấy hơi khó chịu trong quá trình đốt điện tim. Nếu vẫn thấy đau, hãy cho bác sĩ biết để thêm thuốc gây tê.
Sau khi thủ thuật hoàn tất, người bệnh sẽ được vào phòng hồi sức và ở đó trong 4 đến 6 tiếng. Nhịp tim của người bệnh sẽ được theo dõi trong suốt khoảng thời gian này. Người bệnh có thể về nhà ngay trong ngày hoặc cần phải ở lại bệnh viện một đêm.
Rủi ro của thủ thuật đốt điện tim
Các rủi ro của thủ thuật đốt điện tim gồm có chảy máu, đau và nhiễm trùng tại vị trí luồn ống thông. Mặc dù hiếm gặp nhưng thủ thuật này cũng có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng hơn như:
- Cục máu đông
- Tổn thương van tim hoặc động mạch
- Tích tụ dịch quanh tim (tràn dịch màng ngoài tim)
- Nhồi máu cơ tim
- Viêm màng ngoài tim (viêm túi bao quanh tim)
Sau khi đốt điện tim
Người bệnh có thể sẽ cảm thấy mệt mỏi và khó chịu trong 48 giờ sau khi trải qua thủ thuật. Thực hiện theo hướng dẫn của nhân viên y tế về cách chăm sóc vết mổ, dùng thuốc, hạn chế hoạt động thể chất và tái khám. Người bệnh sẽ được đo điện tâm đồ định kỳ và bác sĩ sẽ dựa trên các dải nhịp tim thu được để theo dõi nhịp tim.
Đôi khi, những đợt rối loạn nhịp tim ngắn vẫn tiếp tục xảy ra sau khi đốt điện tim. Đây là phản ứng bình thường trong quá trình mô tim lành lại và sẽ tự hết sau một thời gian.
Bác sĩ sẽ cho biết nếu cần thêm các phương pháp điều trị khác, gồm có cấy máy tạo nhịp tim. Điều này thường cần thiết trong những trường hợp mắc các loại rối loạn nhịp tim phức tạp.
Tiên lượng
Tiên lượng sau thủ thuật đốt điện tim thường tương đối tốt nhưng phụ thuộc vào loại và mức độ nghiêm trọng của tình trạng rối loạn nhịp tim. Thông thường, phải sau khoảng 3 tháng thì mới có thể đánh giá được mức độ thành công của thủ thuật.
Một nghiên cứu toàn cầu quy mô lớn đã phát hiện ra rằng thủ thuật đốt điện tim qua ống thông có hiệu quả đối với khoảng 80% người mắc rung nhĩ, 70% trong đó đã không cần dùng thêm thuốc chống rối loạn nhịp tim sau thủ thuật.
Một nghiên cứu khác xem xét hiệu quả của thủ thuật đốt điện tim đối với các loại rối loạn nhịp tim trên thất đã phát hiện ra rằng 74,1% số ca bệnh được điều trị thành công, 15,7% được điều trị thành công một phần và 9,6% không thành công.
Ngoài ra, tỷ lệ thành công phụ thuộc vào loại rối loạn nhịp tim cần điều trị. Ví dụ, những ca bệnh rối loạn nhịp tim kéo dài dai dẳng có tỷ lệ thành công thấp hơn những ca bệnh là tình trạng rối loạn nhịp tim xảy ra không liên tục.
Nếu băn khoăn về tỷ lệ thành công của thủ thuật đốt điện tim, người bệnh có thể trao đổi với bác sĩ chuyên khoa để được giải đáp.
Điện tâm đồ bất thường có thể phản ánh nhiều điều. Đôi khi, đây chỉ là sự biến đổi bình thường trong nhịp tim, không ảnh hưởng đến sức khỏe. Tuy nhiên, cũng có lúc, nó là dấu hiệu của các trường hợp cấp cứu y tế như nhồi máu cơ tim hoặc rối loạn nhịp tim nguy hiểm. Bác sĩ sẽ phân tích kết quả để xác định xem bạn có cần điều trị thêm hay không.
Máy khử rung tim cấy ghép (implantable cardioverter defibrillator - ICD) là một thiết bị nhỏ được cấy ở ngực của những người bị rối loạn nhịp tim để điều hòa nhịp tim.
Rung nhĩ là biến chứng thường gặp sau phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Tình trạng này thường chỉ xảy ra tạm thời và sẽ tự hết nhưng cũng có thể làm tăng nguy cơ gặp phải các vấn đề về tim mạch khác.
Rung nhĩ (AFib) là tình trạng rối loạn nhịp tim, khiến tim đập không đều. Cũng như điều trị bằng thuốc, phẫu thuật nhằm mục đích khôi phục nhịp tim ổn định và giảm nguy cơ hình thành cục máu đông.
Rung nhĩ (AFib) là một loại rối loạn nhịp tim thường gặp. Phẫu thuật Maze là một phương pháp can thiệp ngoại khoa được sử dụng để điều trị rung nhĩ trong trường hợp thuốc và các phương pháp không phẫu thuật khác không kiểm soát được bệnh hiệu quả.








