Điều trị và xử trí tăng kali máu
1. Tăng Kali máu là gì?
Bình thường trong huyết thanh nồng độ Kali duy trì ở mức 3,5-5,2 millimoles mỗi lít (mmol/l). Tăng kali máu được định nghĩa khi nồng độ kali máu vượt quá 5,5 mmol/L. Tăng kali máu tùy từng mức độ và sự đáp ứng của từng trường hợp mà có biểu hiện triệu chứng nặng hay nhẹ khác nhau. Tuy nhiên, mức độ tăng kali máu thường dựa vào chỉ số nồng độ kali máu huyết thanh, từ đó sẽ có thái độ xử trí phù hợp cho từng trường hợp.
1.1 Mức độ tăng kali máu
- Mức độ nhẹ khi Kali máu từ 5,2 - 6,0 mmol/l
- Mức độ trung bình khi Kali máu từ 6,0 - 6,4 mmol/l
- Mức độ nặng khi Kali máu tăng trên 6,5 mmol/l
1.2 Biểu hiện lâm sàng của tăng Kali máu
Triệu chứng lâm sàng thường xuất hiện muộn, khi kali máu tăng nhiều, đặc biệt khi tăng kali máu cấp tính và các triệu chứng ảnh hưởng quan trọng lên hệ thần kinh, tim và cơ vân:
- Rối loạn tinh thần kinh: Ngứa, tê bì, dị cảm, đặc biệt vùng quanh miệng và chi dưới, thờ ơ, lú lẫn, rối loạn tâm thần
- Rối loạn cơ vân: Cảm giác mệt, yếu cơ, mất phản xạ gân xương, đôi khi bị liệt mềm, khó thở và giảm thông khí phổi do liệt cơ hô hấp
- Tim: Rối loạn nhịp tim, ngừng tim; rối loạn tiểu tiện; cơ trơn: Nôn, ỉa chảy, có khi liệt ruột.
Các triệu chứng nghiêm trọng hơn của tăng kali máu bao gồm: Nhịp tim chậm và mạch yếu. Tăng kali máu nghiêm trọng có thể dẫn đến tim ngừng đập gây tử vong. Nói chung, mức kali tăng chậm (như bị suy thận mạn) làm cơ thể dung nạp tốt hơn so với nồng độ kali tăng đột ngột. Trừ khi sự gia tăng kali rất nhanh, các triệu chứng của tăng kali máu thường không rõ ràng cho đến khi nồng độ kali rất cao (thường là 7,0 mEq/l hoặc cao hơn).
2. Điều trị tăng Kali máu
2.1 Tăng kali máu ở mức độ nhẹ
Khi tăng kali máu ở mức độ nhẹ, bệnh nhân thường ít có các triệu chứng lâm sàng hay biểu hiện trên điện tim sẽ thường được xử lý mà chưa cần nhập viện, đặc biệt là nếu tình trạng chung của bệnh nhân ổn định và không có các tình trạng đi kèm như nhiễm toan hay suy giảm chức năng thận. Bệnh nhân sẽ được khám, kiểm tra nồng độ kali máu, chức năng thận, các thuốc đang sử dụng, chế độ ăn... điều chỉnh bằng các thuốc uống hoặc thay đổi thuốc đang điều trị cho phù hợp. Hẹn tái khám sau 3-5 ngày theo hướng dẫn của nhân viên y tế.
2.2 Tăng kali máu mức độ nặng
Với các trường hợp tăng kali máu mức độ nặng, bệnh nhân có thể xuất hiện các biểu rối loạn về tim mạch, có khi tử vong nhanh chóng nếu không được cấp cứu và điều trị kịp thời. Vì vậy, khi có tăng kali máu kết hợp với có thay đổi về điện tim hoặc có triệu chứng lâm sàng cần phải tiến hành ngay các biện pháp làm hạ nhanh chóng nồng độ kali huyết thanh.
Trường hợp nặng, kali máu tăng cao, bệnh nhân cần được bất động tại giường, mắc monitor theo dõi điện tim, SpO2, đặt đường truyền tĩnh mạch và chuẩn bị các thuốc và phương tiện cấp cứu tăng kali máu, chuẩn bị máy sốc điện (nếu có).
Các biện pháp cần thiết thực hiện để đưa kali máu về bình thường theo các mức từ nhẹ tới nặng (các biện pháp này cần được bác sĩ chuyên khoa chỉ định theo y lệch, không được phép thực hiện tại nhà nếu không được sự kiểm soát của nhân viên y tế).
- Chế độ ăn giảm đưa kali vào cơ thể.
- Dừng các thuốc làm tăng nồng độ kali máu (kali viên, thuốc hạ huyết áp gây tăng kali máu, lợi tiểu gây tăng kali máu)
- Truyền tĩnh mạch glucose có pha insulin giúp tăng vận chuyển kali từ khoang gian bào vào trong các tế bào.
- Calcium đường tĩnh mạch để bảo vệ tim và cơ bắp tạm thời do ảnh hưởng của tăng kali máu.
- Sodium bicarbonate 1,4% để chống toan và thúc đẩy vận chuyển kali từ khoảng gian bào vào trong các tế bào.
- Sử dụng thuốc lợi tiểu để giảm kali máu thông qua việc tăng thải kali qua nước tiểu.
- Các thuốc kích thích thụ thể adrenergic beta-2 (albuterol, epinephrine) cũng được sử dụng để thúc đẩy vận chuyển kali vào trong các tế bào.
- Các thuốc được biết đến như resin trao đổi cation (Resonium A), gắn kết với kali và bài tiết nó thông qua đường tiêu hóa.
- Chỉ định lọc máu cấp cứu, đặc biệt khi các biện pháp khác thất bại hoặc trên bệnh nhân suy thận cấp hoặc đợt cấp suy thận mạn.
Ngoài ra có thể một số trường hợp tăng kali máu “giả tạo”, đó là khi chỉ số kali máu trong huyết thanh tăng cao trên ngưỡng chẩn đoán tăng kali máu nhưng không tìm được nguyên nhân gây tăng kali máu và không có triệu chứng lâm sàng hay trên điện tim thì cần tìm hiểu các nguyên nhân sau:
- Vị trí lấy máu bị garo quá lâu gây thiếu máu.
- Tan vỡ hồng cầu khi lấy mẫu xét nghiệm.
- Bạch cầu tăng quá mức (> 50 G/L) hoặc tăng tiểu cầu (> 1000 G/L) làm mẫu máu bị đông và giải phóng kali ra khỏi tế bào.
Trong các trường hợp này nên lấy kiểm tra lại nồng độ kali máu trước khi tiến hành các biện pháp điều trị.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Nếp gấp màu trắng trên mí mắt sau 6 tháng cắt mí
Dạ em có cắt mí được 6 tháng rồi ạ. Thì sau khi cắt mí 6 tháng, ở mắt phải (mắt khoanh tròn) em thấy có nếp gấp màu trắng ở đó còn mắt trái không có. Em không biết sau này có hết không ạ? Ảnh em nhắm mắt là sau 4 tháng thì cả hai mắt có đường màu trắng nhưng sau thì mắt trái hết rồi ạ. Và có một thắc mắc khác là lúc em cắt chỉ sau 7 ngày thì thấy mắt phải (mắt khoanh tròn), đường mí không vào đầu mắt ạ, còn mắt trái thì vào đầu mắt nên tự nhiên hơn, em không biết sau này nếu sửa lại thì có sửa cho mí mắt phải vào đầu mắt được không ạ?
- 0 trả lời
- 990 lượt xem
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.
Bổ sung sắt hàng ngày là biện pháp để kiểm soát tình trạng thiếu máu do thiếu sắt. Có thể tăng lượng sắt cho cơ thể bẳng cách ăn nhiều thực phẩm giàu sắt hoặc dùng chế phẩm bổ sung sắt.
Một trong các biện pháp để điều trị thiếu máu là điều chỉnh lại chế độ ăn uống. Người bị thiếu máu cần ăn nhiều thực phẩm giàu sắt và các vitamin khác cần thiết cho quá trình sản xuất hemoglobin và hồng cầu.
Sắt là một khoáng chất cần thiết trong cơ thể con người. Sắt tham gia vào quá trình hình thành hồng cầu – các tế bào máu có nhiệm vụ vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Nồng độ sắt thấp hay thiếu sắt sẽ gây mệt mỏi và làm giảm khả năng chống lại nhiễm trùng của cơ thể. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi nồng độ sắt quá cao?





