Tin tức Bệnh Thận - Tiết Niệu
Solifenacin được sử dụng để điều trị các triệu chứng của bàng quang tăng hoạt (OAB), gồm có buồn tiểu đột ngột, đi tiểu nhiều lần và tiểu không tự chủ.
Có rất nhiều loại thuốc chống trầm cảm khác nhau. Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI) là một lựa chọn phổ biến và nói chung là an toàn với những người bị suy thận mạn. Ngoài ra người bị suy thận còn có một số lựa chọn khác.
Đường tiết niệu là hệ cơ quan có chức năng lọc máu, tạo ra nước tiểu và đào thải nước tiểu ra khỏi cơ thể. Các cơ quan trong đường tiết niệu gồm thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Bệnh lý đường tiết niệu là thuật ngữ chung để chỉ tất cả những vấn đề xảy ra với các cơ quan này. Bệnh lý đường tiết niệu có thể xảy ra ở bất kỳ ai.
Bàng quang tăng hoạt (OAB) là một vấn đề rất phổ biến. Các triệu chứng điển hình gồm có đi tiểu nhiều lần, tiểu đêm, tiểu gấp và tiểu không tự chủ (són tiểu). Mặc dù phổ biến hơn ở phụ nữ nhưng nam giới cũng có thể bị bàng quang tăng hoạt.
Bàng quang tăng hoạt (overactive bladder - OAB) là một tình trạng mạn tính với các triệu chứng có thể làm gián đoạn các hoạt động bình thường vào ban ngày và gián đoạn giấc ngủ vào ban đêm. Không chỉ gây ra những triệu chứng khó chịu về thể chất, bàng quang tăng hoạt còn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tinh thần. Mặc dù tình trạng này thường có thể điều trị được nhưng việc tìm ra phương pháp điều trị phù hợp có thể sẽ mất thời gian.
Kích thích điện thần kinh cùng hay điều hòa dây thần kinh cùng là một phương pháp điều trị hiệu quả cho hội chứng bàng quang tăng hoạt. Trong phương pháp điều trị này, một điện cực được cấy dưới da của người bệnh, điện cực sẽ phát xung điện để kích thích các dây thần kinh xung quanh bàng quang.
Oxybutynin được sử dụng để điều trị hội chứng bàng quang tăng hoạt. Oxybutynin dạng phóng thích kéo dài còn được sử dụng cho cả trẻ em từ 6 tuổi trở lên bị bàng quang tăng hoạt do các bệnh lý thần kinh như nứt đốt sống.
Ở giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh, nồng độ estrogen sụt giảm đáng kể. Điều này khiến các mô hỗ trợ tạng chậu trở nên suy yếu và có thể dẫn đến chứng bàng quang tăng hoạt.
Có nhiều phương pháp điều trị bàng quang tăng hoạt, gồm có thay đổi lối sống, dùng thuốc làm giãn cơ bàng quang hay tiêm Botox vào bàng quang. Kích thích điện thần kinh chày qua da (percutaneous tibial nerve stimulation) cũng là một phương pháp điều trị bàng quang tăng hoạt.
Có nhiều phương pháp kiểm soát bàng quang tăng hoạt, từ các biện pháp tự nhiên như thảo dược, thay đổi chế độ ăn uống, tập cơ sàn chậu cho đến các phương pháp điều trị y tế như tiêm Botox, dùng thuốc, kích thích điện hay phẫu thuật. Nghiên cứu mới đây đã phát hiện thêm một phương pháp nữa để điều trị chứng bàng quang tăng hoạt, đó là cannabidiol (CBD).
Co thắt bàng quang là khi cơ bàng quang đột ngột siết lại một cách không tự chủ, gây ra cảm giác buồn tiểu dù bàng quang chưa đầy. Co thắt bàng quang thường được hiểu là bàng quang tăng hoạt (OAB).
Có thể kiểm soát các triệu chứng bàng quang tăng hoạt bằng các biện pháp khắc phục tại nhà như thảo dược, tập luyện và liệu pháp hành vi.
Bàng quang tăng hoạt (overactive bladder) là một nhóm các triệu chứng rối loạn tiểu tiện, trong đó nổi bật nhất là tiểu gấp (đột ngột buồn tiểu). Một trong những phương pháp đơn giản và được sử dụng đầu tiên để điều trị bàng quang tăng hoạt là rèn luyện bàng quang (bladder training). Rèn luyện bàng quang giúp nhịn tiểu được lâu hơn và giảm tần suất đi tiểu trong một ngày. Dưới đây là những điều cơ bản về phương pháp rèn luyện bàng quang, gồm có cách thực hiện và những lợi ích.
Vấn đề về tuyến tiền liệt và bàng quang tăng hoạt (overactive bladder - OAB) là những vấn đề hoàn toàn khác nhau nhưng cả hai đều có thể gây ra tình trạng đi tiểu nhiều lần và tiểu gấp. Mặc dù tình trạng này gây khó chịu và bất tiện nhưng có thể điều trị được. Ngoài các phương pháp y tế, một số bài tập có thể giúp giảm tần suất đi tiểu và tiểu gấp.
Bàng quang tăng hoạt gây buồn tiểu đột ngột và có thể dẫn đến rò rỉ nước tiểu. Tình trạng này phổ biến nhất ở người lớn tuổi, đặc biệt là phụ nữ lớn tuổi nhưng đôi khi xảy ra ở cả những người trẻ tuổi.
Rối loạn chức năng của các dây thần kinh và cơ xung quanh bàng quang có thể dẫn đến kiểm soát bàng quang kém, tiểu không tự chủ và bàng quang tăng hoạt (OAB). Bàng quang tăng hoạt là tình trạng các cơ bàng quang co bóp một cách không tự chủ, điều này gây buồn tiểu liên tục, tiểu gấp và có thể là cả rò rỉ nước tiểu.
Hội chứng bàng quang tăng hoạt là tình trạng buồn tiểu liên tục hoặc tiểu gấp, khó kiểm soát. Tình trạng này làm gián đoạn các hoạt động hàng ngày, gây ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống và còn khiến người bệnh cảm thấy không thoải mái. Bàng quang tăng hoạt còn có thể gây tiểu không tự chủ. Có một số liệu pháp và bài tập có thể giúp tăng cường cơ bàng quang và cải thiện khả năng kiểm soát bàng quang, nhờ đó giảm các triệu chứng bàng quang tăng hoạt. Hai trong số những phương pháp phổ biến là bài tập Kegel và rèn luyện bàng quang.
Bàng quang tăng hoạt (overactive bladder - bàng quang tăng hoạt) là một nhóm các triệu chứng về tiết niệu, trong đó nổi bật nhất là tiểu gấp – tình trạng đột ngột buồn tiểu dữ dội. Đây là một vấn đề phổ biến. Ước tính có khoảng 16% dân số thế giới bị bàng quang tăng hoạt, tỷ lệ mắc ở nam giới và nữ giới là tương đương nhau.
Hội chứng Goodpasture là một bệnh tự miễn hiếm gặp nhưng rất nguy hiểm, có thể đe dọa đến tính mạng.
Hẹp động mạch thận (renal artery stenosis) là tình trạng các động mạch mang máu đến thận bị hẹp lại. Các động mạch thận chịu trách nhiệm mang máu giàu oxy từ tim đến thận. Sau đó, thận lọc chất thải và nước dư thừa khỏi máu. Theo thời gian, hẹp động mạch thận có thể dẫn đến cao huyết áp, phù nề và tổn thương thận.
Sử dụng một số loại thuốc giảm đau trong thời gian dài có thể gây tổn thương và làm suy giảm chức năng thận. Tình trạng này được gọi là bệnh thận do thuốc giảm đau. Có thể phải sau nhiều năm bệnh thận do thuốc giảm đau mới xảy ra và ban đầu thường không có bất kỳ triệu chứng nào. Tuy nhiên, bệnh thận do thuốc giảm đau có thể dẫn đến các biến chứng như suy thận mạn giai đoạn cuối.
Phác đồ điều trị ung thư thận di căn thường kết hợp các phương pháp điều trị với nhau, ví dụ như liệu pháp miễn dịch và liệu pháp nhắm trúng đích. Những phương pháp điều trị này giúp thu nhỏ khối u, làm chậm sự phát triển của khối u hoặc giảm nguy cơ ung thư tái phát.
Nhiễm trùng thận thường là do nhiễm trùng đường tiết niệu lan đến một hoặc cả hai quả thận. Nhiễm trùng thận có thể xảy ra đột ngột (cấp tính) hoặc từ từ và kéo dài (mạn tính). Nhiễm trùng thận thường gây đau đớn và có thể đe dọa đến tính mạng nếu không được điều trị kịp thời. Nhiễm trùng thận còn được gọi là viêm thận bể thận.
Khi bệnh lao xảy ra ở thận, các triệu chứng thường khác với bệnh lao xảy ra ở phổi. Các triệu chứng của lao thận thường giống với triệu chứng nhiễm trùng đường tiết niệu. Điều trị kịp thời là điều rất quan trọng để ngăn ngừa biến chứng.
Xạ trị không phải là phương pháp điều trị phổ biến cho bệnh ung thư thận. Bác sĩ có thể chỉ định xạ trị khi không còn lựa chọn khác hoặc như một phần trong quá trình chăm sóc giảm nhẹ. Nhưng với các công nghệ mới hiện nay, có thể xạ trị sẽ được sử dụng nhiều hơn trong điều trị ung thư thận.
Thận bình thường có kích thước bằng một nắm tay. Teo thận là tình trạng thận bị giảm kích thước và điều này ảnh hưởng đến chức năng thận. Teo thận khác thiểu sản thận, tình trạng thận kém phát triển ngay từ khi còn trong bụng mẹ.
Chế độ ăn ít oxalat được thực hiện nhằm điều trị nhiều chứng bệnh, đặc biệt là sỏi thận. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đã đặt ra câu hỏi liệu rằng chế độ ăn ít oxalat có cần thiết để ngăn ngừa sỏi thận và các bệnh lý khác hay không. Trong bài viết này hãy cùng tìm hiểu về chế độ ăn ít oxalat, gồm có tác dụng, cách thực hiện và liệu chế độ ăn này có giúp phòng ngừa sỏi thận hay không.
Đái tháo nhạt do thận (nephrogenic diabetes insipidus) là một chứng rối loạn hiếm gặp xảy ra khi thận không thể cô đặc nước tiểu. Ở hầu hết mọi người, lượng nước tiểu mà thận tạo ra thay đổi theo lượng nước uống, nhờ đó duy trì sự cân bằng nước trong cơ thể. Tuy nhiên, ở những người bị đái tháo nhạt do thận, thận lại tạo ra quá nhiều nước tiểu. Tình trạng này được gọi là đa niệu và gây khát nước liên tục.
U nguyên bào thần kinh thường bắt đầu ở tuyến thượng thận (tuyến nằm ngay phía trên thận). Ung thư có thể lan đến thận và các khu vực lân cận khác. Mặc dù có thể nhưng rất hiếm khi bệnh ung thư này bắt đầu ở thận.
Cao huyết áp có thể làm hỏng thận, dẫn đến suy thận mạn và thậm chí là suy thận mạn giai đoạn cuối nếu không được kiểm soát tốt. Nếu bạn bị cao huyết áp thì điều quan trọng là phải kiểm soát huyết áp để ngăn ngừa suy thận mạn.




